Bệnh còi xương ở trẻ nhỏ

374 người đã xem

Bệnh còi xương là một bệnh hay gặp ở trẻ em đặc biệt ở những đất nước mù sương ít ánh sáng mặt trời. Việt Nam là một nước nhiệt đới nhưng tỷ lệ trẻ mắc bệnh còi xương cũng khá cao, trong những năm gần đây bệnh có xu hướng gia tăng. Vì vậy đây là vấn đề sức khỏe cộng đồng rất quan tâm.

tre-coi-xuong

Bệnh còi xương là bệnh gì?

  • Còi xương là bệnh loạn dưỡng xương do thiếu Vitamin D( hay rối loạn chuyển hóa Vitamin D) dẫn đến rối loạn chuyển hóa calci, phospho là những yếu tố cần thiết cho sự phát triển xương.
  • Bệnh còi xương là một bệnh toàn thân, nó không chỉ ảnh hưởng đến hệ xương mà còn ảnh hưởng đến hệ thần kinh, hệ cơ. Các triệu chứng lâm sàng thay đổi tùy theo mức độ mắc bệnh.
  • Bệnh còi xương hay gặp ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi, do cơ thể trẻ đang phát triển xương rất mạnh nên tăng nhu cầu Vitamin D.

Nguyên nhân gây còi xương:

Thiếu Vitamin D và calci là nguyên nhân gây ra bệnh còi xương ở trẻ nhỏ. Việc thiếu chất này làm giảm hấp thu calci ở ruột dẫn đến hạ calci máu, gây rối loạn quá trình khoáng hóa xương( do huy động calci ở xương vào máu làm loãng xương). Ngoài ra còn gây ra các dấu hiệu rối loạn chức năng hệ thần kinh như kích thích, vã mồ hôi. Một số nguyên nhân gây thiếu Vitamin D chủ yếu do:

  • Thiếu ánh sáng mặt trời:

Nhà ở quá chật chội, tối tăm. Tập quán kiêng khem: trẻ nhỏ trong tháng đầu các mẹ thường cho nằm trong phòng kín, những trẻ lớn thì được giữ trong nhà không cho tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Sự kiêng giữ quá mức của mẹ có thai và cho con bú. Về mùa đông mặc quá nhiều áo, thiếu ánh nắng mặt trời; các vùng công nghiệp không khí nhiều khói bụi..làm cản trở việc tiếp xúc của da bé với ánh nắng mặt trời,

  • Do chế độ ăn uống:

Bà mẹ thiếu sữa, nuôi con bằng sữa bò, tuy hàm lượng calci trong sữa bò cao hơn trong sữa mẹ nhưng tỷ lệ Ca/P không cân đối nên khó hấp thu calci. Trẻ ăn nước cháo, ăn bột quá sớm hoặc nhiều( do trong bột có nhiều acid phytic, trong rau chứa nhiều oxalat, chất xơ đều làm cản trở sự hấp thu Vitamin D và calci). Vitamin D tan trong dầu nên chế độ ăn thiếu dầu mỡ cũng làm cơ thể giảm hấp thu Vitamin D.

  • Do các yếu tố nguy cơ:

Tình trạng thiếu hụt nặng Vitamin D của người mẹ trong thời kỳ mang thai phá vỡ cân bằng calci nội mô ở bào thai và gây khoáng hóa xương, dẫn đến còi xương từ trong bào thai.

Tuổi: trẻ dưới 1 tuổi dễ mắc còi xương do hệ xương đang phát triển mạnh mẽ.

Trẻ đẻ non, thấp cân: Do tích lũy Vitamin D và muối khoáng trong thời kỳ bào thai kém hơn, enzym chuyển hóa Vitamin D cũng kém hơn trong khi đó nhu cầu của trẻ lại ngày càng cao hơn.

Trẻ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, nhất là các bệnh về đường hô hấp, tiêu hóa.

Trẻ mắc các bệnh về gan mật: Tắc mật bẩm sinh hay rối loạn tiêu hóa kéo dài làm cản trở hấp thu Vitamin D và calci.

Trẻ da màu dễ bị còi xương hơn da trắng do màu da làm cản trở sự tổng hợp Vitamin D.

Triệu chứng lâm sàng của bệnh còi xương:

  • Triệu chứng toàn thân:
  • Các triệu chứng về thần kinh xuất hiện sớm, nhất là thể cấp tính: trẻ quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình. Trẻ vã mồ hôi nhiều ngay cả khi trời mát, hay đổ mồ hôi trộm khi ngủ. Dẫn tới trẻ hay bị rụng tóc gáy và rôm sảy, mọc mụn ngứa ở bụng, lưng. Trường hợp cấp tính có thể có biểu hiện cơn khóc lặng, hay nôn, nấc khi ăn, tiếng thở rít thanh quản, co giật do hạ calci máu.
Dấu hiệu nhận biết trẻ còi xương

Dấu hiệu nhận biết trẻ còi xương

  • Trẻ chậm phát triển vận động: chậm lẫy, chậm bò, chậm đi.
  • Trẻ chậm mọc răng.
  • Triệu chứng ở hệ xương: thường xuất hiện muộn, tùy độ tuổi mắc bệnh mà gây ra những biến đổi xương khác nhau:
  • Ấn nhẹ tay vào giữa xương trên đầu thấy lõm xuống, thả tay ra xương lại về bình thường; thóp rộng, bờ thóp mềm, chậm liền thóp; có cục bướu nổi lên ở vùng trán, đỉnh, chẩm.
  • Có thể gây biến dạng xương hàm, xương hàm dưới phát triển chậm.
  • Bệnh còi xương nặng có di chứng: chuỗi hạt sườn, rãnh Harrison, lồng ngực ức gà, vòng cổ chân, cổ tay, chân cong chữ X, chữ O, gù vẹo cột sống.
  • Trương lực cơ giảm, gây ra hiện tượng bụng ỏng, trẻ chậm biết ngồi, bò, đứng, đi.
  • Hệ tạo máu cũng bị ảnh hưởng, trẻ dễ bị thiếu máu nhược sắc, da xanh, niêm mạc nhợt, hồng cầu to, gan lách thường to.

Triệu chứng xét nghiệm:

  • Phosphatase kiềm tăng ( bình thường 40-140UI/L)
  • Calci máu bình thường hoặc giảm.
  • Phospho máu giảm nhẹ.
  • 25(OH) cholecalciferol giảm dưới 2 nmol/l ( bình thường 25-100 nmol/l).
  • Xquang: xương chi mất chất vôi, đầu xương to bè, đường cốt hóa nham nhở, lõm, điểm cốt hóa chậm. Xương lồng ngực có hình nút chai.

Phòng bệnh còi xương:

  • Đối với mẹ: Mẹ bầu khi mang thai và cho con bú cần phải ăn uống đầy đủ vitamin và khoáng chất, nên ăn các thực phẩm giàu Vitamin D ( sữa, dầu gan cá, lòng đỏ trứng). Nên ra ngoài trời nhiều hơn, với những bà mẹ ít có điều kiện tiếp xúc với ánh nắng mặt trời cần uống Vitamin D dự phòng vào những tháng cuối của thai kỳ: 1000-1200 UI/ngày trong quý III hoặc 1 liều duy nhất 100.000-200.000 UI vào tháng thứ 7. Không thể thiếu hướng dẫn mẹ nuôi con bằng sữa mẹ và cho trẻ tắm nắng sớm.
  • Đối với con:
  • Giáo dục các bà mẹ cách nuôi con: nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu, sau khi cai sữa vẫn đảm bảo bé được uống ít nhất 200ml sữa mỗi ngày. Ăn dặm đúng và đủ các thành phần dinh dưỡng, đủ Vitamin D và lipid ( bổ sung dầu ăn vào thức ăn cho bé). Không cho bé ăn kiêng khem.
  • Tắm nắng cho bé sớm, có thể bắt đầu từ tuần thứ 2 sau đẻ, cho trẻ tắm nắng 5-15 phút vào sáng sớm ( trước 9h) hoặc chiều muộn. Khi tắm nắng cho trẻ cần để hở chân, tay, lưng, bụng trẻ. Với trẻ lớn cho trẻ chơi ngoài trời vào thời gian thích hợp.
  • Dự phòng bằng Vitamin D: được chỉ định cho những trẻ đẻ non, thấp cân, nhưng cần theo dõi chặt và thực hiện theo phác đồ:

Liều 400UI/ngày hoặc liều 1.500-1.600UI/ ngày kèm theo Calci, Phospho ( với những trẻ nhẹ cân). Bắt đầu dùng từ tuần thứ 2 sau đẻ và kéo dài 12 tháng ( hoặc 18 tháng).

Hoặc dùng liều cao 200.000UI, 6 tháng 1 lần hoặc 5 tháng 1 lần với những trẻ ít được tắm nắng. Với những trẻ ít được chăm sóc có thể uống liều 600.000UI  từ khi sinh để bảo vệ bé trong 6 tháng đến 1 năm.

Quấy khóc là một trong những dấu hiệu nhận biết trẻ còi xương

Quấy khóc là một trong những dấu hiệu nhận biết trẻ còi xương

Điều trị bệnh còi xương ở trẻ nhỏ:

  • Đối với trẻ còi xương do dinh dưỡng: cần bổ sung Vitamin D và calci sớm thì các tổn thương xương có thể hồi phục tùy mức độ.
  • Đối với trẻ còi xương do rối loạn chuyển hóa: Trước hết cần ngăn chặn biến chứng giảm calci và phospho máu bằng cách bổ sung calci, phospho và Vitamin D dạng hoạt động (calcitriol )liều cao.

Bổ sung Vitamin D2, D3: 2000-4000UI/ ngày x 4-6 tuần sau đó tiếp tục điều trị dự phòng.

Khi có bệnh nhiễm khuẩn cấp ( viêm phổi, tiêu chảy) có thể dùng 10.000UI/ngày x 10 ngày. Trong quá trình điều trị cần theo dõi các dấu hiệu  ngộ độc Vitamin D.

  • Điều trị phối hợp bệnh còi xương ở trẻ:

Bổ sung các vitamin khác, chế độ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt là dầu mỡ nhằm tăng khả năng hấp thu Vitamin D. Cung cấp muối Ca 500mg/ ngày đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, 1-2g/ngày đối với trẻ lớn.

Kết hợp cho trẻ tắm nắng hàng ngày vào thời điểm thích hợp.ư

Kết luận

Trẻ bị còi xương nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời trẻ sẽ có nguy cơ gặp biến chứng như thiếu máu, viêm phổi nhiều lần ảnh hưởng xấu đến sức khỏe bình thường của trẻ trong quá trình phát triển. Nhất là các biến chứng về xương làm giảm chiều cao, hạn chế chức năng hô hấp, thay đổi dáng đi khi trưởng thành. Vì vậy các bậc phụ huynh nên tìm hiểu cách phòng bệnh cũng như chăm sóc trẻ còi xương tích cực và chủ động hơn.

Ý kiến của bạn

X

Cảm ơn bạn đã quan tâm tới sản phẩm Appetito bimbi. Bạn vui lòng để lại số điện thoại và họ tên để Chuyên viên tư vấn gọi điện lại cho bạn trong vòng 24h